Thứ Ba, 31 tháng 8, 2010

Cứu PC đang “ngắc ngoải”

Ảnh chỉ mang tính chất minh họa
Khi chiếc máy tính làm việc có vấn đề không thể khởi động được, thay vì gọi thợ sửa chữa bạn có thể tự mình cứu máy tính bằng những phương thức sau. Bạn có thể “cấp cứu” máy tính thông qua các tính năng có sẵn hoặc sử dụng phần mềm bên ngoài.

Trước hết vấn đề thường do dây cáp bị lỏng. Tình trạng này xảy ra khi bạn di chuyển máy hoặc tháo ra lắp vào bộ phận nào đó của máy, bạn nên kiểm tra lại tất cả những giắc nguồn hoặc những đầu kết nối như RAM, ổ cứng, dây cắm trên main. Với một chiếc máy tính để bàn thì nguyên nhân rất có thể là do dây cáp bị lỏng. Nếu là laptop thì rất có thể là do pin bị lỏng.

Safe Mode

Nếu PC chỉ bị hỏng nhẹ thì bạn sẽ có rất nhiều lựa chọn cứu chữa. Cách đơn giản nhất là sử dụng Safe Mode, chế độ phân tích sẵn có trong Windows và Mac OS. Safe Mode sẽ chỉ tải những thành phần cần thiết nhất cho máy tính khởi động nhằm giúp người dùng có thể truy cập vào hệ thống. Trong Windows, bạn truy cập vào Safe Mode bằng cách nhấn phím F8 khi máy tính khởi động, rồi chọn chế độ này trong phần Windows Advanced Options Menu. Còn đối với Mac OS, bạn hãy tắt máy hoàn toàn rồi khởi động lại rồi nhấn phím Start, sau đó nhấn giữ phím Shift cho tới khi xuất hiện biểu tượng Apple để vào Safe Mode. Đôi khi, bạn chỉ cần khởi động Safe Mode là đủ để cứu hệ thống và thực hiện các thao tác tắt máy, khởi động và dọn dẹp an toàn.

Last Known Good Configuration

Bạn cũng có thể chọn chế độ này trong phần Windows Advanced Options Menu phía trên, chủ yếu sử dụng trong trường hợp máy tính không vào được Windows được do cài driver phần cứng mới. Khi khởi động chế độ này, PC sẽ sử dụng các thông số khởi động tối ưu gần nhất để vào Windows.
Khôi phục hệ thống System Restore

Kể từ phiên bản Windows XP, tính năng System Restore đã được cải thiện rõ rệt. Nếu máy tính chỉ bị hư hỏng nhẹ do cài phần mềm hoặc driver thì bạn có thể sử dụng chương trình này để khôi phục Windows Vista hoặc Windows 7 về trạng thái trước khi xảy ra sự cố. Để sử dụng được tính năng này, tốt nhất là sau khi cài đặt Windows trong lần đầu tiên, bạn cần đặt điểm khôi phục (restore point). Khi muốn khôi phục hệ thống, bạn nên khởi động PC vào Safe Mode, rồi tìm đến phần System Restore trong Control Panel, rồi chỉ định điểm cần khôi phục. Phương pháp này không ảnh hưởng tới dữ liệu (tài liệu, nhạc, ảnh…) mà chỉ đưa driver hoặc hệ điều hành về trạng thái hoạt động ổn định. Trong Windows 7, bạn chỉ cần kích chuột phải vào tệp tin hoặc thư mục và chọn lệnh “Restore previous versions” là có thể khôi phục chúng về trạng thái trước đó.

Recovery Console/System Recovery Options
Trong Windows XP/2000, có một công cụ tên là Recovery Console. Bạn cần khởi động PC bằng đĩa CD (đĩa khởi động) rồi chọn “Repair your computer”. Trong Windows Vista, phần này bao gồm các lựa chọn: Startup Repair, System Restore, Windows Complete PC Restore (từ bản backup), Windows Memory Diagnostic Tool, và Command Prompt. Còn trong Windows 7, các lựa chọn bao gồm: Startup Repair, System Restore, System Image Recovery, Windows Memory Diagnostic, và Command Prompt.

Đĩa khởi động

Bạn nên sử dụng đĩa khởi động thay vì ổ cứng trong máy tính để đưa PC về trạng thái hồi phục. Đĩa khởi động (có phần mềm khôi phục PC ở trong) được chạy bằng ổ CD hoặc DVD. Bạn có thể sử dụng các phần mềm khôi phục như Windows 7 System Recovery Disks, hoặc HDD Regenerator. Ngoài ra, một số đĩa bán kèm theo máy tính khi mua cũng có chức năng khởi động và khôi phục này.

Tháo ổ cứng lắp sang máy khác

Nếu có vẻ như ổ cứng vẫn chạy mà máy tính không thể đọc được, hoặc ổ không khởi động được thì bạn hãy thử tháo ổ cứng và chạy trên máy tính khác xem chúng có bị lỗi hay không. Nếu máy tính đó không nhận được ổ cứng thì chứng tỏ ổ cứng có vấn đề; còn nếu máy nhận được thì chứng tỏ vấn đề nằm ở chỗ khác chứ không phải ở bản thân ổ cứng.

Sử dụng phần mềm khôi phục dữ liệu

Bạn đã sử dụng các giải pháp phôi phục Windows nhưng vẫn tỏ ra không hiệu quả. Đến đây bạn có thể chọn cách khôi phục dữ liệu bằng các phần mềm như GetDataBack, Stellar Phoenix Windows Data Recovery, và EASEUS Data Recovery Wizard. Rất nhiều phần mềm này có thể “cứu sống” các tệp tin quan trọng đã bị xóa.

Cho ổ cứng vào… tủ lạnh

Nếu khi khởi động máy, ổ cứng kêu to và không vào được Windows, thì chắc hẳn chúng đã có vấn đề. Bạn có thể thử cách cứu ổ cứng mà nhiều người từng sử dụng. Đó là tháo hẳn ổ cứng ra khỏi PC, bọc chúng vào khăn kín rồi đặt vào ngăn đá của tủ lạnh trong khoảng 1 giờ. Hãy chắc rằng ổ cứng không bị dính nước. Sau khoảng 1 giờ, hãy bỏ ổ cứng ra ngoài, cắm cáp vào và gắn vào máy tính xem chúng có hoạt động bình thường hay không. Nếu ổ cứng vẫn không chạy, bạn có thể thử tiếp nhưng tăng thời gian đặt ổ cứng trong tủ lạnh lên khoảng vài tiếng.

Vân Ngọc

Java cơ bản đến nâng cao (phần II)

Java cơ bản đến nâng cao (phần II)
Bạn đã biết 2 kiểu String (chuỗi) và int (nguyên) bây giờ bạn biết thêm kiểu float (thực). Số nguyên và số thực bạn biết sự khác nhau rồi chứ. Bây giờ ta bắt đầu bài toán ví dụ.

Bài 4: Chia hết, chia lấy dư

*Lí thuyết: một số kiểu biến trong Java
Bạn đã biết 2 kiểu String (chuỗi) và int (nguyên) bây giờ bạn biết thêm kiểu float (thực)

HTML Code:
import java.io.*;
public class Hello
{
public static void main(String[] args) throws Exception
{
BufferedReader in = new BufferedReader(new InputStreamReader(System.in));
System.out.print("Nhap a: ");
float a = Float.parseFloat(in.readLine());
System.out.print("Nhap b: ");
float b = Float.parseFloat(in.readLine());
float ketqua = a/b;
System.out.println("Ket qua bai toan a+b la: " + ketqua);
}
}

Bạn thử bài toán xem, nhớ đừng nhập số b=0 nhé, chuyện ấy sẽ xử lí sau.
Ví dụ nhập a=5, b=2, kết quả in ra sẽ là 2.5, thú vị phải không ?
Bây giờ cũng bài toán ấy, bạn thay đổi như sau

HTML Code:
import java.io.*;
public class Hello
{
public static void main(String[] args) throws Exception
{
BufferedReader in = new BufferedReader(new InputStreamReader(System.in));
System.out.print("Nhap a: ");
int a = Integer.parseInt(in.readLine());
System.out.print("Nhap b: ");
int b = Integer.parseInt(in.readLine());
float ketqua = a/b;
System.out.println("Ket qua bai toan a+b la: " + ketqua);
}
}
Cũng nhập a=5, b=2, lần này kết quả in ra là … 2
Phép chia sẽ là phép chia hết nếu cả 2 toán hạng đều kiểu nguyên, gọi là chia lấy nguyên (/) hay div
Bây giờ cũng chương trình ấy mà ta thay đổi lại chút xíu xem sao
HTML Code:
import java.io.*;
public class Hello
{
public static void main(String[] args) throws Exception
{
BufferedReader in = new BufferedReader(new InputStreamReader(System.in));
System.out.print("Nhap a: ");
int a = Integer.parseInt(in.readLine());
System.out.print("Nhap b: ");
int b = Integer.parseInt(in.readLine());
float ketqua = a%b;
System.out.println("Ket qua bai toan a+b la: " + ketqua);
}
}

Cũng nhập a=5, b=2, lần này kết quả in ra là … 1

Đây là kết quả phép chia lấy dư 5 chia cho 2, gọi là chia lấy dư (%) hay mod
*Thế nếu tôi muốn 2 số nguyên chia nhau mà ra kiểu thực chứ không phải phép chia lấy nguyên thì sao ? Trong trường hợp đó, bạn dùng “ép kiểu”
int a=5,b=2;float ket qua;
ketqua=(float)a/b;

NguNguồn: Tuoitre_8x - diendanaptech

Java cơ bản đến nâng cao (phần I)

Java cơ bản đến nâng cao
Vì thấy hay và bổ ích muốn chia sẻ cho những ai thích java và muốn tìm hiểu về nó. Chúc các bạn thành công.



CHƯƠNG I - BẮT ĐẦU VỚI JAVA
Bài 1: Hello world

Bài 2: In ra chuỗi nhập vào
Bài đầu tiên của bạn, bạn đã học cách để Java in cái gì đó ra màn hình, trong bài này, bạn sẽ học cách nhập vào cái gì đó và Java in cái đó ra màn hình. Gõ cái này đi bạn (lưu ý, bạn phải gõ, không được copy và paste)

HTML Code:
import java.io.*;
public class Hello
{
public static void main(String[] args) throws Exception
{
BufferedReader in = new BufferedReader(new InputStreamReader(System.in));
System.out.print("Your name is: ");
String str;
str = in.readLine();
System.out.println("Welcome " + str + " to Java");
}
}

Xin hỏi, tôi đã bắt đầu với một vài ví dụ, mà tôi chẳng hiểu cái gì cả.
Xin trả lời, bạn sẽ học Java qua các ví dụ, rất nhiều ví dụ, lí thuyết thì bạn chỉ học từ từ thôi.
*Lí thuyết: cấu trúc một chương trình Java

HTML Code:
public class Core
{
public static void main(String[] args)
{
System.out.println("Hello,Everybody in the World!");
}
}

public class Core bạn bắt đầu một lớp Java
public static void main(String[] args) đây là một phương thức main trong Java, để cho chương trình chạy được. Tạm thời bạn phải gõ y như thế này
System.out.println("Hello,Everybody in the World!") đây là một câu lệnh trong Java, đơn giản nó chỉ in ra chuỗi nằm trong 2 dấu “” ra màn hình.
Mọi lớp và phương thức trong Java mở ra bằng { và đóng lại bằng }
Mọi câu lệnh trong java kết thúc bằng ;

Bài 3: Biến trong Java

HTML Code:
import java.io.*;
public class Hello
{
public static void main(String[] args) throws Exception
{
BufferedReader in = new BufferedReader(new InputStreamReader(System.in));
System.out.print("Nhap a: ");
int a = Integer.parseInt(in.readLine());
System.out.print("Nhap b: ");
int b = Integer.parseInt(in.readLine());
int ketqua;
ketqua = a+b;
System.out.println("Ket qua bai toan a+b la: “ + ketqua);
}
}

Nhập thử 2 số a và b vào đi bạn, kết quả bài toán a+b sẽ được in ra.
*Lí thuyết:

HTML Code:
import java.io.*;
public class Hello
{
public static void main(String[] args) throws Exception
{
BufferedReader in = new BufferedReader(new InputStreamReader(System.in));
System.out.print("Your name is: ");
String str;
str = in.readLine();
System.out.println("Welcome " + str + " to Java");
}
}

Tạm thời, trong chương trình này, bạn chỉ nên quan tâm đến dòng
String str khai báo biến str kiểu chuỗi, và
System.out.println("Welcome " + str + " to Java")
Đây cũng là dòng System.out.println như chương trình đầu, có khác là + str + tức là đưa một biến vào chuỗi in ra. Chỉ đến đó thôi nhé, sau đó, hãy quan tâm đến bài hôm nay

HTML Code:

System.out.print("Nhap a: ");
int a = Integer.parseInt(in.readLine());
System.out.print("Nhap b: ");
int b = Integer.parseInt(in.readLine());
int ketqua;
ketqua = a+b;
System.out.println("Ket qua bai toan a+b la: “ + ketqua);

Giải thích
import bạn nhập class hay thư viện chuẩn, tạm thời đừng quan tâm nó là gì, chỉ cần nhớ là có nó để chương trình chạy

HTML Code:
System.out.print in ra một chuỗi, nhưng không xuống dòng
System.out.println in ra một chuỗi, nhưng xuống dòng
int ketqua tức là khai báo biến ketqua kiểu int
ketqua = a+b tức là gán kết quả một biểu thức tính toán (ở đây là biến a + biến b) cho biến ketqua
System.out.println("Ket qua bai toan a+b la: “ + ketqua)

Nguồn: Tuoitre_8x - diendanaptech

9 vụ hack nổi tiếng nhất trong lịch sử

Các chuyên gia PCMag đánh giá những vụ phạm tội công nghệ cao dựa theo một số tiêu chí: sự tinh xảo (đã từng có vụ nào tương tự diễn ra trước đó hay không), tầm ảnh hưởng (số lượng website, máy tính, cơ quan, doanh nghiệp… bị ảnh hưởng), thiệt hại (tổng giá trị thiệt hại tính bằng tiền mặt mà vụ tấn công gây ra), tác động lịch sử (tiệu vụ tấn công có tạo ra một xu hướng mới trong thế giới công nghệ hay không).

Ảnh minh họa
9 vụ hack nổi tiếng nhất trong lịch sử

Dưới đây là 9 vụ phạm tội công nghệ cao nổi tiếng nhất trong lịch sử.

John Draper

Nổi tiếng với tên hiệu “Cap'n Crunch”, John Draper là một trong những con người đầu tiên trên thế giới này được “nhận mệnh danh là hacker”. Trong thập niên 70, Draper đã sử dụng một chiếc còi đồ chơi tặng kèm trong hộp ngũ cốc Cap'n Crunch để “hack” vào đường dây điện thoại và thoải mái thực hiện các cuộc gọi “miễn phí”.

Draper vô tình nhận ra rằng chiếc còi tạo ra một âm thanh có tần số giống hệt tần số tín hiệu cuộc gọi trên đường dây điện thoại. Nhờ đó mà anh ta đã có thể điều khiển cuộc gọi tiếp tục được diễn ra mà người nghe vẫn cứ tưởng là cuộc gọi đã kết thúc rồi. Năm 1972, Draper bị phát hiện khi hãng điện thoại “nhìn thấy sự bất thường” trong hóa đơn tiền điện thoại của anh. Sau đó Draper bị kết án 2 tháng tù giam.

Vụ tấn công của Draper đã khai sinh là thuật ngữ “Phreaking”. Nghĩa của thuật ngữ này trong xã hội của chúng ta ngày nay là “tấn công vào các hệ thống viễn thông”.

Kevin Mitnick

Khi mới 17 tuổi Kevin Mitnick đã bắt đầu được biết đến. Nhưng 3 năm sau đó (1983) cái tên Kevin Mitnick mới trở nên thực sự nổi tiếng không chỉ trong giới hacker mà cả giới bảo vệ pháp luật chống tội phạm công nghệ cao.

Đó là năm Mitnick đột nhập thành công vào mạng ARPANet - tiền thân của mạng Internet ngày nay nhưng khi đó chỉ được ứng dụng trong các doanh nghiệp lớn, trường đại học và lực lượng quân đội Mỹ. Từ đó, Mitnick truy cập tới hệ thống mạng của Lầu Năm Góc và mọi tệp tin hồ sơ của Bộ Quốc phòng Mỹ. Tuy nhiên, Mitnick không lấy đi bất kỳ thông tin dữ liệu nào.

Sau khi vụ tấn công bị các nhà quản trị mạng phát hiện, Mitnick bị bắt và phải sống trong trung tâm giáo dục trẻ vị thành niên trong một thời gian ngắn. Đây là vụ hacker đầu tiên trong lịch sử bị kết án tù vì tội đột nhập máy tính trái phép. Nhưng đối với Mitnick, đây là lần bị bắt thứ hai với cùng một tội danh. Từ đó về sau, Mitnick liên tục phải nằm dưới sự giám sát của FBI nhưng anh ta vẫn “thoải mái” thực hiện hàng loạt vụ tấn công sau đó. Tiếp tục bị bắt giữ, điều tra và đưa ra tòa xét xử.

Robert Morris

Năm 1988, sinh viên 23 tuổi mới tốt nghiệp trường ĐH Cornell Robert Morris phát tán 99 dòng mã nguồn độc hại được biết đến bằng cái tên Sâu Morris (Morris Worm) lây nhiễm và khiến hàng loạt PC ở hàng loạt quốc gia khác nhau ngừng hoạt động. Mục tiêu của hacker này là đếm số lượng PC được kết nối vào mạng Internet và qua đó biết được mạng Internet lớn đến như thế nào.

Hành động này đã khiến Morris bị bắt vào năm 1989 và trở thành người đầu tiên bị kết án theo Luật lạm dụng máy tính và có hành vi sử dụng máy tính vào mục đích lừa đảo được Quốc hội Mỹ thông qua năm 1986. Ngoài ra Morris còn phải nộp một khoản tiền phạt lên tới 10.000 USD.

Kevin Poulsen

Năm 1989, Kevin Poulsen bị bắt với tội danh đột nhập trái phép máy tính và máy chủ điện thoại. Tuy nhiên, ngay trước khi bị đưa ra xét xử, Poulsen đã trốn thoát và thực hiện một vụ tấn công được cho là nổi tiếng nhất trong suốt “cuộc đời hacker”.

Đài phát thanh KIIS-FM Los Angeles năm đó đã tổ chức một cuộc thi với giải thưởng là một chiếc xe ô tô thể thao giá trị Porsche 944-S2 cho người thứ 102 gọi điện đến đài. Poulsen đã tìm cách chiếm quyền điều khiển hệ thống chuyển mạch (switchboard line), chặn mọi cuộc gọi đến và nghiễm nhiên trở thành người giành giải thưởng nói trên. Năm 1991, Poulsen mới bị bắt tại một siêu thị ở Los Angeles.

Vladimir Levin

Năm 1994, Vladimir Levin lần đầu tiên trên thế giới thực hiện thành công việc chuyển bất hợp pháp một khoản tiền lớn ra khỏi một ngân hàng có tiếng. Levin đã đánh cắp được một loạt tài khoản ngân hàng doanh nghiệp lớn ở Mỹ thông qua mạng truyền dẫn analog (analog wire transfer network) của ngân hàng CitiBank. Hacker này đã chuyển tổng cộng 10,7 triệu USD sang một loạt các tài khoản ở Mỹ, Phần Lan, Hà Lan, Israel và Đức.

Ba đồng phạm của Levin đã bị bắt khi đến rút tiền ở các ngân hàng nhưng riêng Levin thì phải đến năm 1995 mới bị các cơ quan bảo vệ pháp bắt giữ tại Sân bay Stansted (London, Anh). Năm 1997, Levin bị dẫn độ sang Mỹ, bị kết án 3 năm tù và phải đền bù cho CitiBank một khoản tiền lên tới 240.015 USD. Về số tiền bị đánh cắp, CitiBank chỉ có thể lấy lại khoảng 400.000 USD.

David Smith

Năm 1999, David Smith phát tán sâu Melissa từ một máy tính ở bang New Jersey (Mỹ) thông qua một tài khoản thư điện tử AOL đánh cắp được. Con sâu máy tính có khả năng tự động phát tán đến 50 người đầu tiên có tên trong sổ địa chỉ Outlook khi đã lây nhiễm lên PC.

Melissa đã lây nhiễm và tấn công PC của hơn 300 doanh nghiệp trên toàn thế giới - trong đó có cả những tên tuổi lớn như Microsoft, Intel hay Lucent Technologies. Những doanh nghiệp này đã buộc phải đóng máy chủ email (email gateway) do lượng email được gửi đi quá nhiều. Tổng thiệt hại mà Melissa gây ra ước tính lên tới con số 80 triệu USD.

Sau khi bị kết tội, Smith lĩnh án tù 20 tháng và phải làm việc dưới sự giám sát của FBI nhằm trợ giúp cơ quan này phát hiện ra các loại mã độc mới cũng như lần tìm tác giả của chúng.

Jonathan James

Cuối tháng 6-1999, Jonathan James hoa mắt khi biết tài liệu mã nguồn của NASA có thể được bán với giá 1,7 triệu USD. James - khi ấy mới chỉ có 15 tuổi - đã đột nhập thành công vào máy tính của NASA nhờ đánh cắp được một mật khẩu tài khoản đăng nhập ở Trung tâm vũ trụ Marshall (Alabama, Mỹ) với hi vọng sẽ kiếm được ít tài liệu để bán lấy tiền.

Hậu quả của vụ tấn công là trong tháng 7-1999 NASA đã buộc phải ngắt kết nối mạng máy tính trong suốt vài tuần lễ. Tài liệu bị đánh cắp là tài liệu liên quan đến kiểm soát môi trường trên trạm vũ trụ như nhiệt độ, độ ẩm… Tròn 16 tuổi, James bị kết án 6 tháng tù giam và phải chấp nhận thời gian giám sát thử thách cho đến khi nào tròn 18 tuổi.

MafiaBoy

Tại thời điểm diễn ra vụ tấn công nổi tiếng, Mike Calce chỉ được biết đến bằng cái tên MafiaBoy bởi các cơ quan bảo vệ pháp luật của Canada đã ra lệnh cấm báo giới được tiết lộ tên thật của anh ta. Tháng 2-2000, sử dụng 75 PC trên 52 hệ thống mạng khác nhau, Calce đã tổ chức một cuộc tấn công từ chối dịch vụ (Denial-of-Service) cực lớn hạ gục liên tiếp website của 10 công ty có tên tuổi như Amazon, eBay, E*TRADE, DELL… Không có bất kỳ con số thiệt hại chính thức nào được công bố. Giới phân tích ước tính thiệt hại có thể lên tới 1,7 tỉ đô la Canada (Tính theo giá trị hiện nay là vào khoảng 1,6 tỉ USD).

Năm 2001, Calce bị đưa ra xét xử và nhận án phạt 8 tháng tù giam, một năm thử thách, bị hạn chế sử dụng Internet và phải nộp phải một khoản tiền nhỏ.

Gary McKinnon

Trong hai năm liên tiếp 2001 và 2002, hacker người Anh này đã đột nhập vào hệ thống mạng máy tính của Bộ quốc phòng Mỹ, Lầu năm góc, NASA, lực lượng hải quân và không quân Mỹ nhằm mục đích tìm kiếm bằng chứng của đĩa bay. Các quan chức tuyên bố thiệt hại của của những vụ tấn công này lên tới 700.000 USD.

Hiện McKinnon đang phải đối mặt với việc bị dẫn độ sang Mỹ xét xử. Nếu bị kết án hacker này có thể phải nhận án phạt lên tới 70 năm tù.

Hà Phương (Theo Tuôi Trẻ)

10 dự án lập trình viên PHP nên trải qua

Đối với một lập trình viên PHP bạn luôn hiểu rằng PHP là một ngôn ngữ phổ biến và có một lượng khổng lồ mã nguồn để tham khảo, đa số các thành phần của một Website đã được phát triển dưới dạng nguồn mở việc sử dụng nó yêu cầu tuân thủ theo giấy phép của tác giả đôi khi không bao gồm sự ràng buộc nào.

ảnh minh họa
Việc mở mã nguồn mang lại rất nhiều lợi ích so với việc bạn giữ mã nguồn của mình trừ trường hợp thương mại hóa sản phẩm, đơn cử như:

* Mã nguồn mở được đóng góp bởi nhiều người, kết quả của sản phẩm được làm bởi nhiều người sẽ tốt hơn rất nhiều so với việc bạn phát triển một mình.
* Dễ dàng cập nhật tính năng mới dựa trên sự đóng góp mã nguồn của các nhà phát triển khác nhau.
* Giảm thời gian phát triển, giảm giá thành sản phẩm...
* và nhiều lợi ích khác nữa.

Tớ đã làm việc với PHP trong khoảng 4 năm trở lại đây, bản thân là một Freelance Developer nên không tự cho rằng mình là Master PHP bởi tớ luôn sử dụng PHP như một thành phần phát triển theo ý thích chứ không tâm niệm mình phải làm chủ được ngôn ngữ đó. Những dự án dưới đây là những thành phần phổ biến của một Website, tính thông dụng của nó như là một bắt buộc phải biết đối với Web Developer.

* Gửi eMail: Đây là tính năng phổ biến nhất của mọi Website, hàm mail; là đủ cho hầu hết các yêu cầu khác nhau của người dùng, ngoài ra PHP còn hỗ trợ một số hàm khác nếu bạn muốn đính kèm tập tin hay gửi mail của SMTP server để có thể dễ dàng tạo một chương trình gửi eMail.

* Hỗ trợ người dùng: cho phép cá nhân hóa nội dung Website, có thể đa sở hữu, phân cấp quyền quản lý thông tin của cá nhân cũng như các nội dung khác. Tính năng chính của thành phần này hỗ trợ việc đăng nhập, truy vấn sửa đổi cơ sở dữ liệu, phiên làm việc.

* Tạo RSS, tin rút gọn Feeds: Thời điểm hiện tại Website của bạn sẽ được đánh giá là tụt hậu nếu không hỗ trợ Feed trong việc cung cấp thông tin, lấy tin bằng Feed cho phép người dùng đơn giản hóa việc theo dõi nội dung của một Website nào đó. Tớ sử dụng Magpie RSS trong phần lớn các dự án của mình.

* Xác định vị trí: xác định vị trí địa lý của người dùng đơn giản nhằm thống kê lượng người truy cập nội dung từ nước nào để có thể phục vụ tốt hơn, tính năng này không thật sự quan trọng nhưng đôi khi lại khá hiệu quả nếu bạn muốn biết người của nước nào hay vào Website mình nhất.

* Lấy thông tin từ xa: truy vấn thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, thích hợp với một cổng thông tin tổng hợp, các nội dung này được lưu vào cơ sở dữ liệu.

* Lưu tạm dữ liệu (Cache data): giảm truy vấn tới cơ sở dữ liệu, tránh quá tải hệ thống do phần lớn các dự án cá nhân không được tối ưu về mã nguồn cũng như hiệu xuất làm việc, lưu tạm dữ liệu là một giải pháp đơn giản đề tối ưu hệ thống Website có thể hoạt động ổn định.

* Hệ thống giao diện: Dễ dàng thay đổi giao diện Website, đơn giản hóa quá trình thiết kế, giảm công sức tạo lập Website mới. Một hệ thống giao diện tốt không có nghĩa là phải đầy đủ tính năng mà chỉ cần đáp ứng được đúng nhu cầu sử dụng, tốt nhất là bạn nên tự viết sẽ hoàn hảo hơn sử dụng của người khác, theo tớ thì Hệ thống giao diện gần như là nhân (core) của một hệ thống quản lý nội dung. Tiêu biểu như Smarty của PHP.

* BBcode: Tính năng thường thấy của các diễn đàn, nó đơn giản hóa việc trình bày nội dung giúp người sử dụng thông thường có thể tạo một văn bản chuyên nghiệp mà không cần biết về mã HTML, khách hàng của bạn sẽ dễ dàng sử dụng nó như một ứng dụng văn phòng mà thôi. Hãy thử StringParser_BBcode vì nó rất dễ tùy biến theo ý muốn của bạn.

* Hệ thống truy vấn cơ sở dữ liệu: Cơ sở dữ liệu là phương án tối ưu nhất để lưu trữ dữ liệu của bạn, dữ liệu của bạn có thể lưu trong một hệ CSDL lớn như Mysql hay đơn giản như là một Text file thì hệ thống truy vấn cơ sở dữ liệu sẽ hỗ trợ việc truy vấn dữ liệu, đơn giản và giản lược mã nguồn đi rất nhiều, giảm bớt công sức viết mã nguồn. Cũng như hệ thống giao diện nó là một trong những thành phần quan trọng nhất của tớ khi viết một dự án Web. Hãy thử ezSQL để giảm bớt khai báo truy vấn cho từng query của bạn.

* Môi trường nhập liệu văn bản: Về cơ bản nó là một dạng xử lý nội dung form được hỗ trợ bở Javascript và kết hợp BBCode nhằm phục vụ người dùng một cách tốt nhất có thể, mục đích của nó là cố gắng mô phỏng môi trường làm việc như các ứng dụng văn phòng. FCKEditor là một ví dụ đơn giản nhất.

Mỗi người một quan điểm khác nhau nhưng ít nhiều ai cũng từng phải làm việc qua một trong những dự án trên, 10 thành phần đó không phải là toàn bộ mà chỉ là thông dụng thôi.

Narga

Thứ Hai, 30 tháng 8, 2010

Lập trình viên - ngành nghề "hút" các thí sinh trong mùa thi 2010

Trong chuỗi hoạt động “Tham vấn hướng nghiệp – Vững bền tương lai” là chương trình do Thành Đoàn Tp.HCM phối hợp cùng Nhà Văn Hóa Thanh Niên tổ chức, Hệ thống Đào tạo Lập trình viên Quốc tế Aprotrain-Aptech đã tham gia và cung cấp cho thí sinh mùa thi 2010 những thông tin cực “hút” về ngành nghề được thí sinh quan tâm nhiều nhất hiện nay: Lập trình viên.

Khác hẳn với các hình thức tư vấn tuyển sinh từ các chương trình khác, lần này chuỗi họat động “Tham vấn hướng nghiệp – Vững bền tương lai” hướng đến giải đáp những thắc mắc thiết thực nhất, thực tế nhất cho các bạn học sinh PTTH trong kỳ thi tuyển 2010 này. Bên cạnh đó, với các chuyên gia tư vấn có uy tín đến từ Bộ và Sở Giáo dục – Đào tạo, các bạn học sinh được thoải mái đặt những câu hỏi và lắng nghe những giải đáp rất tận tình và cặn kẽ của các chuyên gia.

Đồng hành cùng tư vấn của các chuyên gia Bộ và Sở, còn có sự tham gia hướng nghiệp của các đơn vị, trường học đào tạo nghề trong thành phố và cũng có nhiều đơn vị đào tạo những ngành nghề mới tham gia. Trong buổi hướng nghiệp, thí sinh quan tâm và đặt nhiều câu hỏi cho Aprotrain-Aptech: chương trình đào tạo, hình thức tuyển sinh và các yếu tố cần thiết để học hai ngành này. Điều này chứng tỏ lĩnh vực CNTT đặc biệt là ngành lập trình viên vẫn ở Top đầu những ngành thí sinh yêu thích vì mức thu nhập tốt, môi trường làm việc toàn cầu hóa.

Không chỉ định hướng nghề nghiệp chung cho thí sinh, đại diện trường, Aprotrain-Aptech còn cung cấp các thông tin cặn kẽ về môi trường đào tạo, chất lượng học tập và các thủ tục tuyển sinh để các bạn trẻ yêu thích CNTT có cơ hội theo học tại đây. Là đơn vị đào tạo luôn cập nhật những công nghệ hàng đầu nhằm mang lại cho học viên những kiến thức mới nhất về CNTT, tại Aprotrain-Aptech, các bạn sẽ được tiếp cận với chương trình đào tạo toàn diện với việc chuyên sâu trong kiến thức chuyên ngành kết hợp các kỹ năng mềm như làm việc nhóm, thuyết trình, quản lý thời gian, … nhằm giúp cho học viên hoàn thiện các kỹ năng lẫn chuyên môn khi ra trường. Thêm vào đó, để đảm bảo đầu ra cho các bạn học viên, Aprotrain-Aptech luôn duy trì bộ phận giới thiệu việc làm sau tốt nghiệp giúp 95% học viên sau khi ra trường có việc làm ngay.

ảnh minh họa
Các bạn học sinh đang tìm hiểu về ngành lập trình tại gian tư vấn của Aprotrain-Aptech

Qua những thông tin hữu ích mà Aprotrain-Aptech mang đến, các bạn học sinh có thêm được một lựa chọn mới cho ngành nghề tương lai của mình. Ngoài ra, trong chương trình, Aprotrain-Aptech còn dành những phần quà, những phần học bổng giá trị dành cho các bạn tham gia vào chương trình một cách nhiệt tình và có câu hỏi hay nhất qua các trò chơi tìm hiểu về trường.

Chuỗi hoạt động diễn ra trong các ngày thứ bảy và chủ nhật cuối tuần nên đã thu hút hàng ngàn sự tham gia của các bạn học sinh. Đây thật sự là một sân chơi bổ ích cho các bạn vào dịp cuối tuần cũng như là một “bữa tiệc thông tin ngon nhất” dành cho các bạn trong mùa thi tuyển năm nay.

Hiện tại, Hệ thống Lập trình viên Quốc tế Aprotrain-Aptech đang tuyển sinh cho năm 2010 với những hỗ trợ về học bổng, laptop, và hỗ trợ nhà ở cho các bạn nhập học tại đây. Và để đăng ký học tại Aprotrain-Aptech, các bạn có thể tìm đến các địa chỉ sau:

Hệ thống Đào tạo Lập trình viên Quốc tế Aprotrain-Aptech
HÀ NỘI: tầng 4, tòa nhà APTECH, 285 Đội Cấn, Ba Đình.
Tổng đài Tư vấn Tuyển sinh : (04) 37 623 654

TP. HỒ CHÍ MINH: tòa nhà APTECH, số 32, đường D2 (góc D2 và D5), P.25, Q.Bình Thạnh.
Tổng đài Tư vấn Tuyển sinh : (08) 35 129 620

PV

Thứ Tư, 18 tháng 8, 2010

Telenor Dictionary for Mobile

Telenor Dictionary là một bộ từ điển rất đồ sộ dành cho điện thoại Symbian, cung cấp cho người dùng 100.000 mục từ phổ thông với phần giảng nghĩa đơn giản, thích hợp cho người mới học tiếng Anh và thích dùng các dạng từ điển Anh - Anh. Đặc biệt, công cụ còn lồng vào đó bộ từ điển đồng nghĩa để giúp bạn luyện môn Writing được trau chuốt hơn.

Sau khi cài đặt, bạn mở từ điển rồi vào mục Dictionary, trong khung điền từ cần tra nghĩa, bạn hãy nhập từ mà bạn muốn vào trong đó rồi nhấn nút Search để công cụ tìm nghĩa của từ đó cho bạn. Phần giảng nghĩa cho một từ sẽ bao gồm từ loại của từ, giải nghĩa từ, từ đồng nghĩa và các từ phát sinh liên quan đến từ ấy.

Dekart SIM Manager

Đối với những người sử dụng điện thoại di động (ĐTDĐ) GSM thì SIM Card là một bộ phận rất quan trọng và không thể thiếu được, có nó ĐTDĐ mới có thể hoạt động được và nó còn lưu trữ rất nhiều thông tin của sổ điện thoại (Phonebook) của người dùng. Và Dekart SIM Manager sẽ trả lời cho câu hỏi “Làm cách nào để quản lí các dữ liệu bên trong SIM Card một cách thuận tiện nhất?".

Với SIM Manager bạn có thể dễ dàng tạo, sửa đổi, phục hồi, sao lưu các thông tin của Phonebook được lưu trên SIM Card và bạn sẽ dùng PC để làm công cụ làm việc với các thông tin giống như đang sử dụng bàn phím của ĐTDĐ vậy.

Bạn có thể quản lí mã PIN, luân chuyển dữ liệu từ SIM này sang SIM khác, phục hồi, xuất/ nhập tất cả các dữ liệu của Phonebook. Phần mềm rất dễ sử dụng và là một tiện ích có dung lượng nhỏ (366 KB) nên không chiếm nhiều dung lượng bộ nhớ. Nó có thể làm việc với mọi kiểu SIM Card và tương thích với đầu đọc PC.SC Smart Card Reader để luân chuyển và thay đổi dữ liệu của người dùng. Hỗ trợ nhiều ngôn ngữ và tương thích với PC chạy hệ điều hành Windows phần mềm sẽ giúp bạn dễ dàng sao lưu các dữ liệu trong Phonebook của SIM Card vào máy tính để tránh tình trạng bị mất dữ liệu trong quá trình sửa đổi.

Bạn có thể thoải mái sao lưu , xuất/ nhập dữ liệu 1 cách bình thường sao đó bạn có thể phục hồi lại các dữ liệu một cách dễ dàng. Với chức năng quản lí mã PIN, bạn có thể thay đổi, mở khoá, kích hoạt và khử kích hoạt mã PIN của SIM Card.

Phần mềm hỗ trợ hầu hết các mẫu ĐTDĐ GSM, và để có thể thực hiện được các thao tác trên bạn cần kết nối PC với đầu đọc PC/SC Smart Card Reader. Chức năng nhập dữ liệu là 1 công cụ rất hay để tổ chức các mối liên hệ công việc, nó còn có thể truy xuất thông tin từ MS Outlook , Outlook Express và các CSV File.

PictureDial (BlackBerry)

Thông thường khi thực hiện một cuộc gọi mọi người đều vào danh bạ hoặc màn hình Call gõ tên rồi ấn nút gọi. Đó là cách gọi nhanh nhất và đơn giản nhất, tuy nhiên đôi khi cách gọi đấy sẽ khiến bạn nhàm chán. Picture Dial sẽ giúp bạn tránh được sự nhàm chán đó.

Eyemags.com: Dịch vụ trực tuyến tạo slideshow ảnh cho ĐTDĐ

Có rất nhiều chương trình và dịch vụ giúp bạn tạo slideshow ảnh để xem trên máy tính hay xem trên đầu đĩa, nhưng để tạo slideshow xem trên điện thoại di động (chạy trên nền MIDP 2.0 Java) thì có lẽ chỉ duy nhất dịch vụ eyemags.com. Để có một slideshow ưng ý, trước tiên, bạn hãy đăng ký một tài khoản miễn phí tại địa chỉ http://www.eyemags.com. Đăng ký thành công, bạn mở e-mail đã khai báo, bấm vào link In order to activate your account click... (do dịch vụ gửi đến có tiêu đề Activate your EyeMags username) để kích hoạt tài khoản.

Bạn sẽ được đưa trở lại trang web của nhà sản xuất, bạn bấm vào siêu liên kết Click here to create your first EyeMag để bắt đầu tạo slideshow thông qua 4 bước sau:

Joboshare DVD to Mobile Phone Converter

Với Joboshare DVD to Mobile Phone Converter 2.8.4 việc thưởng thức Multemedia trên dế cưng của bạn sẽ dễ dàng hơn bao giờ hết nhờ việc RIP và chuyển đổi trực tiếp File DVD sang các định dạng mà Mobile hỗ trợ với các thông số tối ưu nhất; không những thế ngay trong quá trình RIP JDMC 2.8.4 còn cho phép bạn tuỳ biến ngay việc chia - cắt mà không cần phải thêm một thao tác xử lý phụ nào khác giúp tiết kiệm tối đa thời gian của người dùng; điều mà các phần mềm cùng loại không thể sánh kịp.